Salmos 119

VIE2011

1 Phúc cho những ai sống cuộc đời trong sạch,

2 Phúc cho những ai giữ theo các qui tắc Ngài,

3 Họ không làm điều sái bậy;

4 Lạy Chúa, Ngài đã truyền các mệnh lệnh Ngài

5 Tôi ao ước được thêm trung tín

6 Để tôi không cảm thấy xấu hổ

7 Khi tôi hiểu ra luật lệ Chúa là công bằng

8 Tôi sẽ luôn luôn vâng theo các qui luật Chúa,

9 Người trẻ tuổi làm thế nào để sống cuộc đời trong sạch?

10 Tôi hết lòng vâng lời Ngài.

11 Tôi ghi tạc lời Chúa trong lòng tôi

12 Lạy Chúa, Ngài đáng được ca ngợi.

13 Môi tôi sẽ thuật lại những luật lệ mà Chúa đã phán ra.

14 Tôi vui thích sống theo qui tắc

15 Tôi học hỏi mệnh lệnh Chúa

16 Tôi vui thích vâng theo luật lệ Chúa,

17 Xin hãy tỏ lòng nhân từ đối với tôi,

18 Xin mở mắt tôi để tôi được nhìn thấy

19 Tôi là khách lạ trên đất.

20 Tôi mòn mỏi vì luôn ao ước luật lệ Ngài.

21 Chúa quở trách những kẻ tự phụ;

22 Xin đừng để tôi bị sỉ nhục hay bị ghét bỏ

23 Dù cho các quan quyền bàn luận nghịch tôi,

24 Luật lệ Chúa mang cho tôi niềm vui sướng;

25 Tôi sắp sửa qua đời.

26 Tôi thuật cho Ngài biết về đời tôi, Chúa liền trả lời tôi.

27 Xin hãy giúp tôi hiểu mệnh lệnh Ngài.

28 Tôi buồn bã và mệt mỏi.

29 Xin đừng để tôi trở nên bất lương;

30 Tôi đã chọn con đường chân lý;

31 Tôi hết lòng tuân theo các qui tắc của Ngài.

32 Tôi sẽ nhanh nhẹn vâng theo luật lệ Ngài,

33 Lạy Chúa, xin hãy dạy tôi luật lệ Ngài,

34 Xin giúp tôi hiểu,

35 Xin dẫn tôi đi trong con đường

36 Xin hãy khiến tôi vâng giữ qui luật Ngài,

37 Xin đừng để tôi chú tâm về những chuyện vô ích.

38 Xin hãy giữ lời hứa cùng tôi, kẻ tôi tớ Chúa,

39 Xin hãy cất khỏi tôi sự hổ nhục mà tôi sợ,

40 Tôi mong muốn vâng theo mệnh lệnh Ngài.

41 Chúa ôi, xin tỏ tình yêu Ngài đối với tôi

42 Tôi đối đáp kẻ sỉ nhục tôi

43 Xin đừng ngăn cấm tôi nói ra

44 Tôi sẽ vâng theo lời dạy dỗ của Ngài mãi mãi.

45 Để tôi được sống trong tự do,

46 Tôi sẽ trình bày các qui luật Chúa với các vua,

47 Tôi vui thích vâng theo luật lệ Ngài;

48 Tôi ca ngợi phép tắc Ngài, là điều tôi thích,

49 Xin đừng quên lời hứa của Ngài cùng tôi,

50 Khi tôi gặp khốn khổ, thì tôi được an ủi;

51 Những kẻ tự phụ chế giễu tôi,

52 Chúa ôi, khi tôi nhớ lại luật lệ Chúa ban ra từ xưa,

53 Tôi nổi giận với kẻ gian ác

54 Hễ tôi ở đâu thì tôi sẽ ca ngợi

55 Chúa ôi, ban đêm tôi nhớ đến Ngài,

56 Đây là điều tôi thường làm:

57 Lạy Chúa, Ngài là sản nghiệp của đời tôi;

58 Tôi hết lòng cầu nguyện cùng Ngài,

59 Tôi suy tư về đời sống tôi,

60 Tôi mau mắn vâng theo luật lệ Ngài,

61 Kẻ ác đã trói buộc tôi,

62 Giữa đêm tôi thức dậy để cảm tạ Ngài

63 Tôi là bạn thân của những người kính sợ Chúa

64 Chúa ôi, tình yêu Chúa tràn đầy mặt đất.

65 Lạy Chúa Ngài đã đối tốt

66 Xin dạy tôi khôn ngoan

67 Trước kia tôi bị khốn khổ, và làm điều sai lầm,

68 Chúa là Đấng nhân đức, hay làm điều nhân đức.

69 Những kẻ tự phụ đặt điều phao vu về tôi,

70 Lòng chúng nó chai đá,

71 Cảnh khổ là điều tốt cho tôi;

72 Sự dạy dỗ Chúa đối với tôi quí hơn hàng ngàn lượng vàng và bạc.

73 Ngài đã chính tay tạo ra và uốn nắn tôi.

74 Nguyện những ai kính sợ Chúa vui mừng khi thấy tôi

75 Lạy Chúa, tôi biết luật lệ Ngài là đúng

76 Xin hãy lấy tình yêu Ngài an ủi tôi,

77 Xin hãy thương xót tôi để tôi được sống.

78 Xin hãy khiến kẻ tự phụ xấu hổ

79 Nguyền những ai kính sợ Chúa

80 Nguyện tôi hoàn toàn vâng theo qui tắc của Ngài

81 Tôi mòn mỏi vì trông đợi Ngài giải cứu tôi,

82 Mắt tôi mòn mỏi vì tìm kiếm lời

83 Dù cho tôi như bầu rượu bằng da bị ném vào đống rác,

84 Tôi còn sống bao lâu nữa?

85 Những kẻ tự phụ đã đào hố

86 Tất cả các qui luật Ngài đều đáng tin.

87 Chúng suýt đưa tôi xuống mồ,

88 Xin cho tôi sống do tình yêu Ngài

89 Lạy Chúa, lời Ngài còn đời đời;

90 Sự thành tín Ngài kéo dài vô tận;

91 Mọi vật còn đến ngày nay là do luật lệ Chúa,

92 Nếu tôi không yêu mến sự dạy dỗ Ngài,

93 Tôi sẽ không quên các mệnh lệnh Ngài,

94 Tôi thuộc về Ngài, xin hãy cứu tôi.

95 Kẻ ác chực giết hại tôi,

96 Tôi nhìn thấy mọi vật mà Ngài dựng nên đều có giới hạn,

97 Tôi yêu mến lời dạy Chúa biết bao!

98 Luật lệ Chúa khiến tôi khôn ngoan hơn kẻ thù tôi,

99 Tôi khôn ngoan hơn các giáo sư tôi,

100 Tôi hiểu biết hơn các vị lãnh đạo lão thành,

101 Tôi đã tránh mọi lối gian tà

102 Tôi không đi lạc xa các luật lệ Chúa,

103 Lời hứa Ngài rất ngọt ngào

104 Những mệnh lệnh Ngài giúp tôi hiểu biết,

105 Lời Chúa là đèn soi bước chân tôi

106 Tôi sẽ làm điều tôi hứa nguyện

107 Tôi chịu khổ quá lâu.

108 Chúa ôi, xin hãy chấp nhận lời ca ngợi tôi

109 Mạng sống tôi hằng gặp nguy biến,

110 Kẻ ác giăng bẫy bắt tôi,

111 Tôi sẽ vâng theo các qui luật Ngài mãi mãi,

112 Tôi sẽ mãi mãi làm theo điều Ngài đòi hỏi, cho đến cùng.

113 Tôi ghét kẻ bất trung,

114 Ngài là nơi tôi ẩn náu và là cái khiên che chở tôi;

115 Hỡi kẻ làm ác, hãy tránh xa khỏi ta

116 Xin Chúa hãy hỗ trợ tôi như Ngài đã hứa thì tôi sẽ sống.

117 Xin giúp tôi thì tôi sẽ được cứu.

118 Chúa gạt bỏ những kẻ không tôn trọng luật lệ Ngài.

119 Chúa ném bọn gian ác như người ta ném rác.

120 Tôi run sợ trước mặt Chúa;

121 Tôi đã làm điều phải và công chính.

122 Xin hứa giúp tôi, kẻ tôi tớ Chúa.

123 Mắt tôi mờ vì trông đợi sự cứu rỗi

124 Xin hãy cho tôi, kẻ tôi tớ Chúa,

125 Tôi là kẻ tôi tớ Chúa.

126 Chúa ôi, đến lúc Ngài phải ra tay,

127 Tôi yêu mến luật lệ Chúa

128 Tôi tôn trọng các mệnh lệnh Ngài,

129 Các qui tắc Chúa thật diệu kỳ,

130 Việc học hỏi lời Chúa mang lại sự khôn ngoan,

131 Tôi rất thèm khát, muốn học hỏi luật lệ Ngài.

132 Xin hãy nhìn tôi và thương xót tôi

133 Xin hãy chỉ dẫn các bước của tôi như Ngài đã hứa;

134 Xin hãy cứu tôi khỏi kẻ ác hại

135 Xin hãy tỏ lòng nhân từ cùng tôi,

136 Tôi rơi lệ

137 Lạy Chúa, Ngài làm điều phải,

138 Những qui tắc Chúa truyền đều đúng và hoàn toàn đáng tin cậy.

139 Tôi bực dọc và mòn mỏi,

140 Những lời hứa Chúa đã được trắc nghiệm,

141 Tôi vô danh và bị ghét bỏ,

142 Lòng nhân từ Ngài còn mãi mãi,

143 Tôi gặp khó khăn và khốn khổ,

144 Các qui tắc Chúa đều mãi mãi tốt lành.

145 Chúa ôi, tôi hết lòng kêu xin Ngài.

146 Tôi kêu cầu Ngài.

147 Buổi sáng tôi dậy sớm và kêu xin.

148 Tôi thao thức suốt đêm

149 Vì tình yêu Ngài xin hãy lắng nghe tôi;

150 Những kẻ làm điều ác đang theo sát gần tôi,

151 Nhưng Chúa ôi, Ngài cũng ở gần,

152 Xưa kia tôi học biết qui tắc Ngài

153 Xin hãy nhìn sự khốn khổ tôi và giải cứu tôi,

154 Xin hãy bào chữa cho tôi

155 Kẻ ác sẽ không được cứu đâu,

156 Lạy Chúa nhân từ;

157 Vô số kẻ thù đuổi theo tôi,

158 Tôi nhìn thấy kẻ phản bội, tôi ghét chúng,

159 Hãy xem tôi yêu mến mệnh lệnh Ngài biết bao nhiêu.

160 Từ đầu, lời Chúa vốn chân thật,

161 Các quan quyền tấn công tôi vô cớ,

162 Tôi vui mừng về lời hứa Ngài

163 Tôi gớm ghét và khinh bỉ chuyện dối trá,

164 Tôi ca ngợi Ngài bảy lần mỗi ngày

165 Những ai yêu mến lời dạy của Ngài

166 Chúa ôi, tôi trông đợi Ngài giải cứu tôi,

167 Tôi tuân theo qui tắc Ngài,

168 Tôi vâng theo mệnh lệnh

169 Chúa ôi, xin nghe tiếng kêu cứu tôi.

170 Xin lắng nghe lời cầu xin tôi;

171 Xin cho tôi ca ngợi Ngài,

172 Xin cho tôi hát chúc tụng lời hứa Ngài,

173 Xin giơ tay giúp đỡ tôi,

174 Lạy Chúa, tôi mong Ngài cứu tôi.

175 Xin cho tôi sống để tôi ca ngợi Ngài.

176 Tôi đã đi lang thang như chiên lạc.

Ler em outra tradução

Comparar lado a lado